Việt Nam: Điểm mới nổi bật của Luật Chuyển giao công nghệ 2025

Ngày đăng: Thứ Sáu, 18/09/26 Người đăng: Admin
CNC_Việt Nam-Điểm mới nổi bật của Luật Chuyển giao công nghệ 2025

I. Khái quát chung

Việt Nam đang hướng tới việc chuyển mình bằng cách khuyến khích ứng dụng các công nghệ và quy trình tiên tiến từ thế giới, góp phần vào hoạt động thương mại và tăng trưởng quốc gia.

Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 đã được bổ sung, điều chỉnh một số điều trong năm 2025 (“Luật Chuyển giao công nghệ 2025”) cùng với Nghị định số 101/2026/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, tạo nên khung pháp lý mới cho các tổ chức, cá nhân tối ưu hóa việc tiếp nhận và làm chủ công nghệ sạch, tiên tiến và phù hợp với tình hình mới.

Bản tin này tóm tắt những cập nhật quan trọng theo quy định pháp luật, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2026, nhằm giúp các doanh nghiệp hiểu và tuân thủ các nghĩa vụ của mình.

II. Những điểm nổi bật của Luật Chuyển giao công nghệ 2025

1. Điều chỉnh định nghĩa “chuyển giao công nghệ”

Luật Chuyển giao công nghệ 2025 sửa đổi định nghĩa “chuyển giao công nghệ” là hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện thông qua việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ hoặc quyền sử dụng công nghệ nhằm đưa công nghệ vào ứng dụng thực tiễn để tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc phương thức sản xuất mới.

Trong khi đó, quy định cũ tại Khoản 7 Điều 2 Luật Chuyển giao công nghệ 2017[1] chỉ mô tả ở phạm vi hẹp, chưa làm rõ mục tiêu ứng dụng và đổi mới.

Định nghĩa được sửa đổi này thể hiện rõ chủ đích lập pháp trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo không chỉ thông qua việc thực hiện các hoạt động chuyển giao công nghệ, mà còn hướng tới mục tiêu cuối cùng là đưa công nghệ vào ứng dụng thực tiễn nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ hoặc phương thức sản xuất mới. Theo cách tiếp cận này, công nghệ được chuyển giao được gắn liền với việc khai thác, ứng dụng và thương mại hóa một cách hiệu quả.

Đây là sự chuyển dịch từ quản lý hành chính sang thúc đẩy giá trị kinh tế của công nghệ. Do đó, cách tiếp cận mới trong việc định nghĩa khái niệm này được đánh giá là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng gián tiếp đặt ra yêu cầu đối với bên nhận chuyển giao về năng lực tiếp nhận, làm chủ và vận hành công nghệ nhằm bảo đảm công nghệ được ứng dụng hiệu quả trên thực tế.

2. Mở rộng đối tượng công nghệ được chuyển giao

Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi[2] đã mở rộng và cập nhật đối tượng công nghệ được chuyển giao, thay các thuật ngữ cũ như “bản vẽ” bằng “thiết kế”, “phần mềm máy tính” bằng “phần mềm”, đồng thời bổ sung thêm các đối tượng mới như mô hình và thuật toán.

Trong khi đó, quy định cũ tại điểm b Khoản 1 Điều 4 Luật Chuyển giao công nghệ 2017[3] chỉ giới hạn ở các yếu tố truyền thống, chưa bao quát các dạng công nghệ số hiện đại.

Đối tượng chuyển giao công nghệ quy định tại Luật Chuyển giao công nghệ 2017 và Luật Chuyển giao công nghệ 2025

Đối tượng chuyển giao công nghệ quy định tại Luật Chuyển giao công nghệ 2017 và Luật Chuyển giao công nghệ 2025

3. Bổ sung chính sách ưu tiên chuyển giao công nghệ[4]

– Ưu tiên chuyển giao công nghệ chiến lược, công nghệ xanh, công nghệ phục vụ dự án quan trọng quốc gia; chú trọng hoạt động chuyển giao công nghệ cho địa bàn vùng miền núi, hải đảo.

– Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ chiến lược, chú trọng lan tỏa công nghệ chiến lược từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước.

– Khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam nhằm nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ trong nước; việc chuyển giao công nghệ trong hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên, bảo đảm tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ và phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

– Ưu tiên áp dụng chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng và các biện pháp khuyến khích khác đối với dự án đầu tư nước ngoài có nội dung chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hoặc ứng dụng công nghệ tại Việt Nam.

Trước đây, luật cũ chưa có quy định cụ thể và mang tính định hướng rõ ràng về các chính sách này.

4. Điều chỉnh rõ quyền chuyển giao công nghệ[5]

Việc bổ sung các quyền liên quan đến hoạt động chuyển giao công nghệ nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động chuyển giao công nghệ. Cách tiếp cận này góp phần giảm thiểu rủi ro pháp lý và tạo điều kiện để các bên thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mình, đặc biệt trong bối cảnh thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ trong nước và khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Đáng chú ý, Luật Chuyển giao công nghệ 2025 đã chính thức ghi nhận quyền của bên nhận chuyển giao được cải tiến, phát triển và khai thác công nghệ được chuyển giao trên cơ sở chính công nghệ đó, phù hợp với quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định pháp luật có liên quan.

Việc ghi nhận quyền này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy cả hoạt động chuyển giao công nghệ trong nước và chuyển giao công nghệ xuyên biên giới, bởi bên nhận chuyển giao không còn chỉ giới hạn ở việc khai thác công nghệ mà còn được tạo điều kiện để cải tiến và phát triển công nghệ đã được chuyển giao. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng trên thực tế cũng như giá trị kinh tế của công nghệ được chuyển giao..

Bên cạnh đó, Luật Chuyển giao công nghệ 2025 làm rõ rằng, trong trường hợp công nghệ được tích hợp vào sản phẩm, máy móc, thiết bị hoặc hệ thống, thì quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với công nghệ đó không mặc nhiên phát sinh cùng với quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với sản phẩm, máy móc, thiết bị hoặc hệ thống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác phù hợp với quy định của pháp luật.

Quy định này là một bước hoàn thiện hợp lý và có ý nghĩa thực tiễn, giúp các bên hạn chế rủi ro pháp lý thông qua việc xác định và phân định rõ quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với công nghệ với quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với sản phẩm, máy móc, thiết bị hoặc hệ thống có tích hợp công nghệ khi giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ.

CNC_Quyền chuyển giao công nghệ

Quyền chuyển giao công nghệ

5. Quy định cụ thể về góp vốn bằng công nghệ[6]

Công nghệ được các chuyên gia nhìn nhận không chỉ là một tư liệu sản xuất mà còn là một loại tài sản có giá trị, có thể được định giá và sử dụng để góp vốn.

Trên cơ sở quan điểm này, Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi đã mở rộng đáng kể phạm vi góp vốn bằng công nghệ khi cho phép tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu hợp pháp đối với công nghệ được sử dụng công nghệ đó để góp vốn vào doanh nghiệp, thay vì chỉ giới hạn trong hoạt động góp vốn vào dự án đầu tư như quy định của Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017.

Cách tiếp cận này thể hiện quan điểm lập pháp toàn diện, bảo đảm sự thống nhất giữa khuôn khổ pháp lý về chuyển giao công nghệ với thực tiễn đầu tư và hoạt động góp vốn tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng khuyến khích việc góp vốn bằng các công nghệ được hình thành từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp Việt Nam thông qua các biện pháp hỗ trợ liên quan đến định giá công nghệ, xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với công nghệ.

Đây được xem là một điểm mới đáng chú ý, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ trong nước, đồng thời khuyến khích thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển.

Quy định về góp vốn bằng công nghệ

Quy định về góp vốn bằng công nghệ

6. Khuyến khích đăng ký và cung cấp thông tin về chuyển giao công nghệ

Trên cơ sở tăng cường số hóa, các quy định mới bổ sung và khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về các hoạt động chuyển giao trên Nền tảng số quốc gia về quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới[7].

Việc công khai và chuẩn hóa thông tin giúp tăng cường tính minh bạch của các giao dịch chuyển giao công nghệ và hiệu quả quản lý của nhà nước, giảm thiểu rủi ro và cho phép các bên tham gia thuận tiện vào hệ sinh thái đổi mới quốc gia.

Nghĩa vụ đăng ký chuyển giao là nghĩa vụ bắt buộc đối với các trường hợp chuyển giao công nghệ sử dụng vốn đầu tư nhà nước hoặc có dấu hiệu chuyển giao xuyên biên giới như chuyển giao từ nước ngoài sang Việt Nam và ngược lại[8].

Khi đó, bên nhận công nghệ (trong trường hợp gia công công nghiệp từ nước ngoài sang Việt Nam hoặc trong nước) và bên chuyển giao công nghệ (trong trường hợp gia công công nghiệp từ Việt Nam sang nước ngoài) có thể thay mặt các bên gửi hồ sơ đăng ký công nghệ công nghiệp cho cơ quan có thẩm quyền.

Ngoài việc đảm bảo đầy đủ số lượng và danh mục hồ sơ trong quá trình xin Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ, các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếu tố sau[9]: (i) Hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa các bên phải đảm bảo có nội dung cơ bản; (ii) Đảm bảo bên chuyển giao không thuộc trường hợp bị hạn chế đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc bị cấm; (iii) Tuân thủ về hình thức và phương pháp phải phù hợp; (iv) Đảm bảo sự phù hợp của các nội dung khác trong hợp đồng với quy định pháp luật.

Hiện nay, để thúc đẩy và rút ngắn thời gian chuyển giao công nghệ, Nhà nước khuyến khích các trường hợp không yêu cầu đăng ký khi chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, việc đăng ký và cấp Giấy chứng nhận là cơ sở để các doanh nghiệp công nghệ được ưu tiên trong quá trình lựa chọn hoặc trực tiếp giao nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời được hưởng các chính sách ưu đãi.

Quy định về góp vốn bằng công nghệ

Quy định về đăng ký và cung cấp thông tin về chuyển giao công nghệ

7. Quy định chuyển tiếp cho các hợp đồng và dự án chuyển giao công nghệ

Luật mới đã bổ sung quy định chuyển tiếp chi tiết, hướng dẫn cách xử lý các hợp đồng, hồ sơ và dự án trước thời điểm áp dụng luật mới.

– Thỏa thuận chuyển giao công nghệ ký trước ngày 01/4/2026 tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận; sửa đổi, bổ sung, gia hạn sau ngày này thực hiện theo Luật số 115/2025/QH15..

– Hồ sơ đăng ký, gia hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ thụ lý trước 01/4/2026 chưa giải quyết áp dụng Luật số 07/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15.

– Hồ sơ chấp thuận, cấp phép chuyển giao công nghệ thụ lý trước 01/7/2025 chưa giải quyết đến 01/4/2026 áp dụng Luật số 07/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15.

– Dự án sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường được phê duyệt trước 01/4/2026 chưa thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ, nếu điều chỉnh nội dung công nghệ sau ngày 01/4/2026 phải thẩm định hoặc lấy ý kiến theo Luật số 115/2025/QH15.

Trong khi đó, luật cũ không có quy định cụ thể, dễ gây lúng túng khi áp dụng.

III. Kết luận

Luật Chuyển giao công nghệ 2025 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý, tạo động lực mạnh mẽ cho hoạt động thương mại hóa và nội địa hóa công nghệ trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Bằng cách đẩy mạnh phân cấp quản lý và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, Luật không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình xử lý hồ sơ mà còn giảm thiểu đáng kể rủi ro pháp lý, từ đó khuyến khích các bên liên quan chủ động tham gia vào các hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt là tại thị trường nội địa.

Đây là minh chứng rõ nét cho định hướng chiến lược của Nhà nước trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, hiệu quả.

Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc hiểu và vận dụng đúng các quy định mới về quyền cải tiến công nghệ cũng như các chính sách ưu đãi đầu tư sẽ là lợi thế cạnh tranh then chốt.

Dù sẽ cần tiếp tục tinh chỉnh để bắt kịp các xu hướng thực tiễn, Luật Chuyển giao công nghệ 2025 hứa hẹn sẽ tạo ra một hệ sinh thái chuyển giao công nghệ đồng bộ, đáp ứng sát sao nhu cầu phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Phụ trách

Lương Văn Chương I Luật sư thành viên

Điện thoại: (84) 938 04 7969

Email: chris.luong@cnccounsel.com

Trần Anh Thy | Cộng sự

Điện thoại: (84) 28 6276-9900

Email: thy.tran@cnccounsel.com

Cộng tác viên Bùi Hương Giang

Điện thoại: (84) 347 924 900

Liên hệ

Mọi thông tin vui lòng liên hệ:

CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

Địa chỉ: 2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 028 6276 9900

Hotline: 0916 545 618

Email: contact@cnccounsel.com

Website: cnccounsel

——————————–

Bản quyền © CNC Counsel. Bảo lưu mọi quyền. Quyền sở hữu: Tài liệu này và nội dung thể hiện trong đó (Tài Liệu) là tài nguyên độc quyền thuộc sở hữu độc quyền của CNC Counsel. Việc sử dụng Tài Liệu này tự nó không tạo ra bất kỳ mối quan hệ hợp đồng hoặc bất kỳ mối quan hệ luật sư/khách hàng nào giữa CNC Counsel và bất kỳ bên nào. Miễn trừ trách nhiệm: Tất cả Tài Liệu chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và có thể không phản ánh những quy định pháp lý mới nhất. Tất cả các tóm tắt về luật, quy định và thông lệ đều có thể thay đổi. Tài Liệu này không được cung cấp dưới dạng tư vấn pháp lý hoặc chuyên môn cho bất kỳ vấn đề cụ thể nào. Tài Liệu không nhằm mục đích thay thế cho việc tham khảo (và tuân thủ) các điều khoản chi tiết của luật, quy tắc, quy định hoặc biểu mẫu hiện hành nào. Khách hàng được khuyến cáo phải tư vấn pháp lý trước khi quyết định thực hiện hoặc không thực hiện bất kỳ hành động nào dựa theo thông tin nêu trong Tài Liệu. CNC Counsel và các biên tập viên cùng các tác giả không đảm bảo tính chính xác của Tài Liệu và từ chối chịu bất kỳ trách nhiệm đối với bất kỳ bên nào liên quan đến hành động của họ dựa trên toàn bộ hoặc bất kỳ phần nào của Tài Liệu. Tài Liệu có thể chứa các liên kết đến các trang website bên ngoài và các trang website bên ngoài có thể dẫn liên kết đến Tài Liệu. CNC Counsel không chịu trách nhiệm về nội dung hoặc hoạt động của bất kỳ trang website bên ngoài nào như vậy và từ chối mọi trách nhiệm liên quan đến nội dung hoặc hoạt động của bất kỳ trang website bên ngoài nào. Lưu ý: kết quả đã đạt được trong quá khứ không đảm bảo cho một kết quả tương tự trong tương lai, mỗi vụ việc đều có tính chất khác nhau.

——————————–

[1] Khoản 7 Điều 2 Luật Chuyển giao công nghệ 2017: “Chuyển giao công nghệ là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.”

[2] Khoản 3 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ 2025: “Phương án, quy trình công nghệ; giải pháp, thông số, thiết kế, sơ đồ kỹ thuật; mô hình, thuật toán, công thức, phần mềm, thông tin, dữ liệu.”

[3] Điểm b Khoản 1 Điều 4 Luật Chuyển giao công nghệ 2017: “Phương án, quy trình công nghệ; giải pháp, thông số, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật; công thức, phần mềm máy tính, thông tin dữ liệu.”

[4] Khoản 2 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ 2025.

[5] Khoản 5 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ 2025.

[6] Khoản 6 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ 2025.

[7] Khoản 14 Điều 1 Luật Chuyển giao Công nghệ 2025.

[8] Khoản 14 Điều 1 Luật Chuyển giao Công nghệ 2025.

[9] Khoản 4 Điều 20 Nghị định số 101/2026/NĐ-CP.

Content Protection by DMCA.com

Để lại một bình luận

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.