VIỆT NAM: Bước ngoặt mới cho hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo Nghị định 342/2026/NĐ-CP

Ngày đăng: Thứ Ba, 15/09/26 Người đăng: Admin
VIỆT NAM: Bước ngoặt mới cho hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo Nghị định 342/2026/NĐ-CP

Nghị định 342/2026/NĐ-CP ban hành ngày 03/09/2026 và có hiệu lực từ 18/10/2026 (gọi tắt là “Nghị định 342”), đã chính thức thay thế Nghị định 09/2018/NĐ-CP – văn bản nền tảng điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sau hơn tám năm thực thi (gọi tắt là “Nghị định 09/2018”). Nghị định 342 mới không chỉ cập nhật các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, mà còn phản ánh rõ nét sự chuyển dịch trong tư duy quản lý: từ kiểm soát chặt chẽ sang tạo điều kiện thuận lợi hơn, đồng thời vẫn giữ vững các yêu cầu về an ninh và trật tự thị trường.

Bài viết này giới thiệu một số điểm mới đáng chú ý của Nghị định 342, thảo luận một số nội dung lưu ý chúng tôi cho là quan trọng đối với nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời đưa ra những nhận định thực tiễn để doanh nghiệp có góc nhìn tham khảo.

I. Các điểm mới quan trọng đáng chú ý của Nghị định 342

1. Tiêu chí ENT được tinh gọn và rõ ràng hơn

Từ 5 nhóm tiêu chí xuống còn 4 nhóm, đồng thời bổ sung ngưỡng diện tích 5.000 m² để xác định cấp độ khu vực thị trường địa lý chịu ảnh hưởng (dưới 5.000 m²: cấp xã/phường; từ 5.000 m² trở lên: cấp tỉnh).

2. Các trường hợp bắt buộc thẩm định an ninh quốc gia

Đây là điểm hoàn toàn mới được giới thiệu bởi Nghị định 342, theo đó, Cơ quan cấp phép phải lấy ý kiến Bộ Công an và Bộ Quốc phòng khi:

  • Nhà đầu tư thuộc nước/vùng lãnh thổ không tham gia Điều ước quốc tế có cam kết mở cửa thị trường;
  • Nhà đầu tư nước ngoài chi phối tổ chức kinh tế là chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian lớn, mạng xã hội thương mại điện tử hoặc nền tảng thương mại điện tử tích hợp thuộc nhóm nền tảng số lớn;
  • Chuỗi bán lẻ đạt một trong các ngưỡng: 100 cơ sở dưới 500 m²; 50 cơ sở từ 500 m² đến dưới 3.000 m²; hoặc 30 cơ sở từ 3.000 m² trở lên.

3. Chế độ báo cáo tăng cường

Doanh nghiệp phải báo cáo định kỳ hai lần mỗi năm (trước ngày 15/01 và 15/7), thay vì chỉ một lần như trước.

4. Làm rõ thêm quyền xuất khẩu – nhập khẩu – phân phối

Nghị định 342 chính thức xếp hoạt động “đại lý” vào nhóm quyền phân phối, giúp thống nhất cách hiểu trước đây còn có sự khác biệt.

5. Điều kiện cấp Giấy phép kinh doanh (GPKD)

Cấu trúc điều kiện vẫn chia thành 02 nhóm nhưng có điều chỉnh:

Nhóm 1 – Nhà đầu tư thuộc nước/vùng lãnh thổ có cam kết mở cửa thị trường với Việt Nam:

  • Đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường theo Điều ước (và được lựa chọn áp dụng theo Luật Đầu tư).
  • Không còn nợ thuế quá hạn (nếu đã thành lập ≥ 1 năm).
  • Bỏ yêu cầu “có kế hoạch tài chính” như trước đây bắt buộc.

Nhóm 2 – Nhà đầu tư không thuộc nước có cam kết với Việt Nam:

  • Không nợ thuế quá hạn (≥ 1 năm).
  • Phù hợp pháp luật chuyên ngành.
  • Phù hợp mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước trong cùng lĩnh vực (thời gian 1 năm trước ngày nộp hồ sơ).

Nghị định 342 vẫn giữ các tiêu chí về tạo việc làm, đóng góp ngân sách… nhưng cách diễn đạt đã gọn hơn. Một điểm mới nữa của Nghị định 342 là cho phép nộp hồ sơ đồng thời GPKD và Giấy phép lập cơ sở bán lẻ (GPLCSBL) thứ nhất nếu cùng tỉnh/thành phố với trụ sở chính của doanh ngiệp, giúp rút ngắn thời gian thủ tục.

Ngoài ra, trường hợp doanh nghiệp trong nước nhận vốn đầu tư nước ngoài trở thành doanh nghiệp FDI thì được tiếp tục hoạt động bán lẻ tối đa 12 tháng trong lúc đợi làm thủ tục cấp phép phù hợp (GPKD và/hoặc GPLCSBL).

6. Nghĩa vụ duy trì điều kiện tiếp cận thị trường trong suốt quá trình hoạt động

Không chỉ tại thời điểm xin cấp phép, doanh nghiệp phải tiếp tục đáp ứng các điều kiện tiếp cận thị trường trong suốt thời gian hoạt động. Đây là quy định siết chặt hơn so với trước.

7. Thay đổi cơ chế lấy ý kiến liên ngành

Nghị định 09/2018 yêu cầu xin ý kiến Bộ Công Thương trong nhiều trường hợp. Nghị định 342 bỏ yêu cầu này đối với phần lớn hồ sơ thông thường, thay bằng việc lấy ý kiến Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong các trường hợp có yếu tố an ninh quốc gia.

8. Bổ sung trường thông tin trên Giấy phép

Giấy phép kinh doanh phải ghi rõ quốc tịch của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông sáng lập và danh mục hàng hóa kinh doanh cụ thể.

9. Bổ sung căn cứ thu hồi giấy phép

Nghị định quy định rõ hơn các trường hợp bị thu hồi, tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho công tác hậu kiểm.

10. Thủ tục hồ sơ & thời gian thực hiện thủ tục

Hồ sơ xin cấp GPKD theo Nghị định 342 bao gồm các thành phần cơ bản như:

  • Đơn đề nghị
  • Bản giải trình (kế hoạch kinh doanh, nhu cầu lao động, đánh giá tác động kinh tế – xã hội…)
  • Giấy xác nhận không nợ thuế quá hạn (không quá 6 tháng)
  • Bản sao GCNĐKDN + GCNĐKĐT (nếu có)
  • Các giấy tờ phụ trợ cho từng loại hàng hóa đặc thù …
  • Điểm mới: Cơ quan cấp phép được khai thác dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia. Chỉ yêu cầu doanh nghiệp bổ sung khi không khai thác được.

Trình tự & thời hạn thực hiện thủ tục nay đuọc rút gọn rõ rệt hơn nữa:

  • Kiểm tra hồ sơ: 3 ngày làm việc
  • Xem xét điều kiện: 10 ngày làm việc
  • Lấy ý kiến Bộ Công an + Bộ Quốc phòng (nếu cần): 14 ngày làm việc
  • Trả kết quả sau khi có ý kiến: 3 ngày làm việc

Tổng thời gian nhanh hơn so với Nghị định 09/2018. Ngoài ra doanh nghiệp cũng được quyền nộp hồ sơ theo nhiều cách khác nhau: Trực tiếp, bưu chính công ích, dịch vụ bưu chính doanh nghiệp, hoặc nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.

II. Một số vấn đề liên quan đến Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT)

Nghị định 09/2018 ra đời trong giai đoạn Việt Nam vừa gia nhập WTO và bắt đầu thực thi các cam kết mở cửa thị trường phân phối, trong đó giới thiệu “ENT” – cơ chế kiểm tra nhu cầu kinh tế bắt buộc khi doanh nghiệp FDI lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất (từ cửa hàng thứ 2 trở đi). Lúc đó, ENT được duy trì như một công cụ bảo hộ có chọn lọc, cho phép cơ quan quản lý đánh giá sự cần thiết của việc mở thêm điểm bán lẻ dựa trên các tiêu chí về quy mô thị trường, tác động đến chợ truyền thống và đóng góp kinh tế – xã hội.

Sau gần một thập kỷ, bối cảnh đã thay đổi căn bản. Việt Nam đã hoàn tất thời hạn bảo lưu ENT theo CPTPP (từ 14/01/2024) và EVFTA/UKVFTA (từ 01/08/2025). Việc tiếp tục duy trì ENT đối với mọi nhà đầu tư nước ngoài không còn phù hợp với nghĩa vụ quốc tế. Đồng thời, sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, chuỗi bán lẻ hiện đại và yêu cầu về an ninh quốc gia trong kỷ nguyên số cũng đòi hỏi khung pháp lý mới.

Nghị định 342 vừa nội luật hóa các cam kết bãi bỏ ENT, vừa bổ sung cơ chế thẩm định an ninh đối với các nền tảng số lớn và chuỗi bán lẻ quy mô lớn, đồng thời đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng dữ liệu hóa.

Bảng so sánh nhanh các tiêu chí về ENT giữa Nghị định 09/2018 và Nghị định 342/2026 như sau:

Tiêu chí Nghị định 09/2018 Nghị định 342/2026
Cam kết bãi bỏ ENT Không nêu rõ trong Nghị định Nêu rõ miễn ENT nếu Điều ước có cam kết bãi bỏ
Phạm vi áp dụng Cơ sở bán lẻ thứ 2 trở đi (trừ ngoại lệ được miễn) Tương tự, nhưng Nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước/vùng lãnh thổ tham gia Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có cam kết bãi bỏ ENT thì không phải thực hiện ENT khi lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất (trừ trường hợp không thuộc ngoại lệ diện tích < 500 m² trong trung tâm thương mại).

 

Ngoại lệ miễn ENT Cơ sở có diện tích dưới 500 m², được lập trong trung tâm thương mạikhông thuộc loại hình cửa hàng tiện lợi / siêu thị mini Về cơ bản giữ nguyên ngoại lệ này, nhưng bổ sung làm rõ thêm loại hình “siêu thị”
Định nghĩa loại hình Chưa chi tiết bằng Nghị định 342 Làm rõ rất chi tiết:
– Cửa hàng tiện lợi: < 300 m²
– Siêu thị mini: ≤ 500 m²
– Siêu thị: > 500 m²Rõ ràng hơn, dễ xác định khi nào phải thực hiện ENT
Tiêu chí đánh giá Hội đồng ENT đánh giá 5 nhóm tiêu chí:

  1. Quy mô khu vực thị trường địa lý chịu ảnh hưởng.
  2. Số lượng cơ sở bán lẻ đang hoạt động trong khu vực.
  3. Tác động tới sự ổn định thị trường và hoạt động của các cơ sở bán lẻ + chợ truyền thống.
  4. Ảnh hưởng tới mật độ giao thông, vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy.
  5. Khả năng đóng góp KT-XH:
    • Tạo việc làm cho lao động trong nước
    • Đóng góp phát triển và hiện đại hóa ngành bán lẻ
    • Cải thiện môi trường & điều kiện sống dân cư
    • Mức độ đóng góp ngân sách nhà nước
4 nhóm tiêu chí (gọn hơn), nhưng có điều chỉnh thực tiễn:

  1. Phạm vi khu vực thị trường địa lý:
  • Xác định rõ khu vực chịu ảnh hưởng (cấp xã/phường nếu diện tích < 5.000 m²; cấp tỉnh nếu ≥ 5.000 m²).
  • Phân tích mật độ dân số, quy mô thị trường, khoảng cách đến các cơ sở bán lẻ hiện hữu.

2. Tác động đến sự ổn định thị trường và chợ truyền thống:

  • Số lượng, loại hình, quy mô các cơ sở bán lẻ và chợ truyền thống đang hoạt động trong khu vực.
  • Phân tích khả năng cạnh tranh, nguy cơ gây suy giảm doanh thu của các đơn vị hiện hữu.
  • Chứng minh sự cần thiết (nhu cầu thực tế của khu vực chưa được đáp ứng đầy đủ).

3. Khả năng đóng góp kinh tế – xã hội:

  • Đóng góp vào hiện đại hóa ngành bán lẻ (mô hình mới, công nghệ, trải nghiệm khách hàng…).
  • Cải thiện điều kiện sống dân cư (tiện ích, chất lượng hàng hóa, giá cả…).
  • Số lượng việc làm tạo ra (ưu tiên lao động địa phương).

4. Sự phù hợp với yêu cầu an ninh, trật tự, an toàn xã hội:

  • Đánh giá tác động đến an ninh trật tự, giao thông, môi trường.
  • Các biện pháp giảm thiểu rủi ro (PCCC, an ninh nội bộ, quản lý đám đông…).
  • An ninh, trật tự, an toàn xã hội của khu vực; An ninh biên giới, hải đảo, khu quân sự (nếu liên quan).

Điểm mới quan trọng: Kết hợp lấy ý kiến Bộ Công an + Bộ Quốc phòng trong một số trường hợp (đặc biệt liên quan an ninh hoặc nhà đầu tư không thuộc nước có cam kết).

Phạm vi khu vực thị trường địa lý chịu ảnh hưởng Không quy định rõ Cơ sở có diện tích bán hàng dưới 5.000 m²: xem xét ở cấp xã/phường hoặc tương đương.

Cơ sở có diện tích bán hàng từ 5.000 m² trở lên: xem xét ở cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương.

Hội đồng ENT Hội đồng ENT vẫn do UBND cấp tỉnh thành lập và đánh giá trong khoảng 20 ngày làm việc (tương tự trước).

Thành phần: Đại diện UBND cấp tỉnh (hoặc cơ quan được ủy quyền) làm Chủ tịch; Đại diện Sở Công Thương, Sở Tài chính, Công an cấp tỉnh; Các sở, ban, ngành, cơ quan, tổ chức liên quan khác.

Nếu địa điểm lập cơ sở bán lẻ tiếp giáp với tỉnh/thành phố khác thì Hội đồng ENT phải lấy ý kiến UBND tỉnh tiếp giáp.

Chủ tịch Hội đồng ENT ban hành văn bản kết luận đề xuất cho phép hoặc không cho phép lập cơ sở bán lẻ, trong đó nêu rõ ý kiến đánh giá về sự phù hợp/không phù hợp với các tiêu chí ENT.

Thủ tục & thời hạn ENT a/ Kiểm tra hồ sơ ban đầu: ~3–5 ngày

b/ Thành lập Hội đồng ENT: ~7 ngày

c/ Đánh giá của Hội đồng ENT:  20–30 ngày

d/ Lấy ý kiến Bộ Công Thương (nếu cần): Có

e/ Tổng thời gian ước tính: 30–45 ngày (trên thực tiễn thường kéo dài hơn)

a/ 3 ngày

b/ Tích hợp trong quy trình

c/ 20 ngày làm việc

d/ Chủ yếu chuyển về UBND tỉnh

e/ Lý thuyết cho thấy khoảng 25–40 ngày (thực tiễn tùy thuộc vào trường hợp cụ thể)

Điều kiện chung để được cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ (kể cả khi phải ENT) Đối với cơ sở bán lẻ thứ nhất (không ENT):

  • Không còn nợ thuế quá hạn (nếu đã thành lập ≥ 1 năm);
  • Địa điểm đáp ứng đầy đủ quy định về đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, PCCC, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường.

Đối với cơ sở bán lẻ ngoài thứ nhất:

  • Phải đáp ứng toàn bộ điều kiện của cơ sở thứ nhất;
  • Nếu thuộc diện phải ENT thì phải đáp ứng thêm các tiêu chí ENT nêu trên.

Cơ quan cấp phép còn căn cứ thêm:

  • Sự phù hợp với kế hoạch, chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực của địa phương, vùng, quốc gia;
  • (Đối với nhà đầu tư không thuộc nước có cam kết) tiến trình đàm phán mở cửa thị trường, nhu cầu mở cửa của Việt Nam, quan hệ ngoại giao, vấn đề an ninh quốc gia…

Điểm quan trọng nhất nằm ở việc Nghị định 342 chính thức thừa nhận hiệu lực của các cam kết CPTPP, EVFTA và UKVFTA. Nhà đầu tư từ các nước thành viên các hiệp định này sẽ không còn phải trải qua quy trình đánh giá ENT khi mở cửa hàng thứ hai trở đi (trừ trường hợp không thuộc ngoại lệ). Tuy nhiên, ENT vẫn tiếp tục áp dụng đối với nhà đầu tư từ các nước không có cam kết tương ứng.

Dựa trên các cam kết chính thức của Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại của bài viết này (tháng 9/2026), có thể thấy các Hiệp định mà Việt Nam là thành viên có cam kết bãi bỏ ENT rõ ràng (hoặc hết thời hạn bảo lưu) như sau:

Bên cạnh đó, các Hiệp định mà Việt Nam là thành viên mà chưa có cam kết bãi bỏ hoặc vẫn duy trì ENT (tương đương WTO) có thể thấy như sau:

  • WTO (cam kết gia nhập 2007): Vẫn duy trì ENT đối với cơ sở bán lẻ thứ 2 trở đi.
  • RCEP: Cam kết dịch vụ phân phối tương đương hoặc thấp hơn so với WTO/AFAS. Không có cam kết bãi bỏ ENT như CPTPP/EVFTA.
  • Các FTA kiểu ASEAN+1 như (ACFTA, AKFTA, AJCEP, AANZFTA, AIFTA, AHKFTA…): Cơ bản giữ mức cam kết như WTO hoặc AFAS, tức là vẫn áp dụng ENT.
  • Xem xét các FTA song phương khác của Việt Nam như VKFTA (Hàn Quốc), VJEPA (Nhật Bản), VCFTA (Chile), VN-EAEU FTA (Nga + Belarus, Kazakhstan, Armenia, Kyrgyzstan), VIFTA (Israel)…: Không có cam kết bãi bỏ ENT mạnh như CPTPP/EVFTA. Các FTA này chủ yếu tập trung vào hàng hóa, cam kết dịch vụ phân phối thường tương đương hoặc thấp hơn WTO.

Như vậy có thể thấy quy định về ENT (trừ trường hợp ngoại lệ) vẫn sẽ áp dụng cho các Nhà đầu tư từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản (nếu không chọn CPTPP), ASEAN (ngoài CPTPP), Nga, Ấn Độ, Chile, Israel, UAE….

Ngoài ra, dù thuộc trường hợp được miễn ENT thì doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về địa điểm (điều kiện này được mở rộng đáng kể so với trước, bao gồm việc tuân thủ pháp luật về đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường).

III. Nghị định 342 mở rộng cách diễn đạt về hoạt động “thương mại điện tử” so với Nghị định 09/2018

Nghị định 09/2018 vốn đã yêu cầu các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải xin Giấy phép kinh doanh khi “Cung cấp dịch vụ thương mại điện tử” để thực hiện các hoạt động sau: “Dịch vụ thương mại điện tử là hoạt động thương mại theo đó bên cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thiết lập website thương mại điện tử để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ”, đặc biệt là mô hình sàn thương mại (marketplace) – tức là website cho bên thứ ba bán hàng.

Tuy nhiên điểm mới của Nghị định 342 là đã thay thế và mở rộng cách diễn đạt về hoạt động “thương mại điện tử” (TMĐT) so với Nghị định 09/2018, như thể hiện trong bảng so sánh sau:

Thuật ngữ  “Nền tảng thương mại điện tử” được sử dụng trong Nghị định 342 giờ đây mang khái niệm rộng hơn, hiện đại hơn khi bao gồm cả các hình thức như: Mạng xã hội hoạt động TMĐT (social commerce như Facebook, TikTok Shop kiểu Việt Nam…); Nền tảng TMĐT tích hợp; hoặcNền tảng số lớn (theo tiêu chí của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng).

Nghị định 342 đã cập nhật thuật ngữ cho phù hợp với thực tiễn công nghệ và Luật Thương mại điện tử 2025 (và các Nghị định hướng dẫn thi hành), đồng thời siết chặt kiểm soát an ninh quốc gia đối với các nền tảng lớn do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chi phối.

IV. Một số điểm cần lưu ý trong thực tiễn triển khai

Bên cạnh những điểm tiến bộ, Nghị định 342 vẫn để lại một số khoảng trống cần theo dõi trong thời gian tới:

  • Cách thức đánh giá “tuân thủ đầy đủ” các điều kiện về địa điểm vẫn chưa được hướng dẫn chi tiết, tạo dư địa cho sự khác biệt giữa các địa phương và khoảng trống diễn giải phụ thuộc khá lớn vào quan điểm của cơ quan cấp phép, có thể dẫn đến yêu cầu bổ sung hồ sơ và kéo dài thời gian.
  • Quy trình lấy ý kiến Bộ Công an và Bộ Quốc phòng đối với chuỗi lớn và nền tảng số có thể phát sinh thời gian xử lý kéo dài.
  • Nghĩa vụ duy trì điều kiện tiếp cận thị trường trong suốt quá trình hoạt động đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên rà soát và cập nhật.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nên tận dụng khoảng thời gian trước ngày 18/10/2026 để rà soát lại toàn bộ cấu trúc sở hữu, hồ sơ pháp lý hiện hành và chuẩn bị phương án đáp ứng các yêu cầu mới, đặc biệt là chế độ báo cáo hai kỳ một năm và các nghĩa vụ liên quan.

VI. Kết luận

Nghị định 342/2026/NĐ-CP đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Việc bãi bỏ ENT đối với nhà đầu tư thuộc các FTA thế hệ mới, đơn giản hóa thủ tục hồ sơ và chuyển thẩm quyền về địa phương là những tín hiệu tích cực, thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần nhận thức rõ rằng sự thông thoáng về ENT đi kèm với việc siết chặt hơn ở khía cạnh an ninh quốc gia, minh bạch sở hữu và duy trì điều kiện hoạt động. Chỉ những doanh nghiệp chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt cấu trúc pháp lý, hồ sơ và tuân thủ mới có thể tận dụng tối đa các cơ hội mà Nghị định mới mang lại.

Trong thời gian tới, việc theo dõi các văn bản hướng dẫn chi tiết từ Bộ Công Thương, Bộ Công an và thực tiễn áp dụng tại các địa phương sẽ là yếu tố then chốt để doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư và mở rộng chuỗi bán lẻ một cách an toàn, hiệu quả.

VII. CNC có thể hỗ trợ gì?

  • Đầu tư nước ngoài: Thành lập công ty, Đăng ký đầu tư và Tuân thủ sau đăng ký chẳng hạn như thuế, kế toán, lao động, bảo hiểm, tiền lương và Phòng pháp chế thuê ngoài;
  • Giấy phép hoạt động: Chúng tôi hỗ trợ xin giấy phép hoạt động cho các hoạt động kinh doanh cụ thể như sản xuất, thương mại, dịch vụ, thương mại điện tử, y tế, giáo dục hoặc thực phẩm & đồ uống (nhà hàng) v.v.;
  • Dịch vụ M&A: Thực hiện Báo Cáo Thẩm Định Pháp Lý; Xây dựng cấu trúc giao dịch; Soạn thảo và Đàm phán tài liệu giao dịch; Tư vấn tuân thủ luật cạnh tranh, bao gồm hồ sơ kiểm soát tập trung kinh tế và phê duyệt liên quan; Xin các phê duyệt và giấy phép cần thiết; và hỗ trợ Hậu giao dịch:
  • Bảo vệ dữ liệu cá nhân: hỗ trợ tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu, bao gồm soạn thảo và rà soát Đánh giá Tác động Bảo vệ Dữ liệu (DPIAs), Thỏa thuận Xử lý/Chuyển giao Dữ liệu, Chính sách Quyền Riêng tư và các tài liệu cần thiết theo Luật Bảo vệ Dữ liệu Cá nhân (PDPL).
  • Giải quyết tranh chấp: Tố tụng Tòa án và Trọng tài thương mại (VIAC SIAC ICC); và
  • Dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên theo yêu cầu của khách hàng.

Xin vui lòng liên hệ Ông Chris Luong – Luật sư Thành viên qua email chris.luong@cnccounsel.com hoặc Bà Ngân Nguyễn – Luật sư Thành viên qua email ngan.nguyen@cnccousel.com để được hỗ trợ nhanh nhất.

Phụ trách

Nguyễn Văn Thịnh I Luật sư thành viên

Điện thoại: (84) 907 535 199

Email: thinh.nguyen@cnccounsel.com

Luật sư Ngân Nguyễn Thị Kim Ngân I Luật sư thành viên

Điện thoại: (84) 919 639 093

Email: ngan.nguyen@cnccounsel.com

Lương Văn Chương I Luật sư thành viên

Điện thoại: (84) 938 04 7969

Email: chris.luong@cnccounsel.com

Liên hệ

Mọi thông tin vui lòng liên hệ:

CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

Địa chỉ: 2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 028 6276 9900 – 081 235 3839

Hotline: 0916 545 618

Email: contact@cnccounsel.com

Website: cnccounsel

Sẽ rất vui khi bạn ghé thăm văn phòng của CNC bởi ở đó bạn sẽ được trao đổi với Luật sư phù hợp nhất với hoàn cảnh của bạn. Tất nhiên, nếu bạn không thể thu xếp để gặp trực tiếp, chỉ cần gửi email cho chúng tôi tại địa chỉ contact@cnccounsel.com hoặc gọi số máy (+84-28) 6276 9900.

Bản quyền © CNC Counsel. Bảo lưu mọi quyền. Quyền sở hữu: Tài liệu này và nội dung thể hiện trong đó (Tài Liệu) là tài nguyên độc quyền thuộc sở hữu độc quyền của CNC Counsel. Việc sử dụng Tài Liệu này tự nó không tạo ra bất kỳ mối quan hệ hợp đồng hoặc bất kỳ mối quan hệ luật sư/khách hàng nào giữa CNC Counsel và bất kỳ bên nào. Miễn trừ trách nhiệm: Tất cả Tài Liệu chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và có thể không phản ánh những quy định pháp lý mới nhất. Tất cả các tóm tắt về luật, quy định và thông lệ đều có thể thay đổi. Tài Liệu này không được cung cấp dưới dạng tư vấn pháp lý hoặc chuyên môn cho bất kỳ vấn đề cụ thể nào. Tài Liệu không nhằm mục đích thay thế cho việc tham khảo (và tuân thủ) các điều khoản chi tiết của luật, quy tắc, quy định hoặc biểu mẫu hiện hành nào. Khách hàng được khuyến cáo phải tư vấn pháp lý trước khi quyết định thực hiện hoặc không thực hiện bất kỳ hành động nào dựa theo thông tin nêu trong Tài Liệu. CNC Counsel và các biên tập viên cùng các tác giả không đảm bảo tính chính xác của Tài Liệu và từ chối chịu bất kỳ trách nhiệm đối với bất kỳ bên nào liên quan đến hành động của họ dựa trên toàn bộ hoặc bất kỳ phần nào của Tài Liệu. Tài Liệu có thể chứa các liên kết đến các trang website bên ngoài và các trang website bên ngoài có thể dẫn liên kết đến Tài Liệu. CNC Counsel không chịu trách nhiệm về nội dung hoặc hoạt động của bất kỳ trang website bên ngoài nào như vậy và từ chối mọi trách nhiệm liên quan đến nội dung hoặc hoạt động của bất kỳ trang website bên ngoài nào. Lưu ý: kết quả đã đạt được trong quá khứ không đảm bảo cho một kết quả tương tự trong tương lai, mỗi vụ việc đều có tính chất khác nhau.

Content Protection by DMCA.com

Để lại một bình luận

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.