Quy định về mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh tế được Chính phủ ban hành thông qua Nghị định số 109/2026/NĐ-CP. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là việc bổ sung chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong quá trình phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 18/5/2026, góp phần tăng cường kỷ cương pháp lý, nâng cao ý thức tuân thủ của doanh nghiệp và hợp tác xã, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ, người lao động, nhà đầu tư và các chủ thể có liên quan. Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng thủ tục phá sản để che giấu tài sản, tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thanh toán.
Trong bài viết lần này, CNC sẽ cung cấp một bức tranh toàn cảnh về mức xử phạt vi phạm đối với phục hồi và phá sản trong doanh nghiệp, hợp tác xã.
Nghị định 109/2026/NĐ-CP có gì mới so với Nghị định 82/2020/NĐ-CP?
Các hành vi vi phạm trong phục hồi và phá sản doanh nghiệp bị xử phạt theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP
Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt đối với nhiều hành vi vi phạm phát sinh trong quá trình phục hồi hoạt động kinh doanh và giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Các hành vi này không chỉ làm ảnh hưởng đến trình tự, thủ tục phá sản mà còn xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ, người lao động và các chủ thể liên quan. Cụ thể:

Thứ nhất, cản trở quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản[1]
Một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật phá sản là bảo đảm quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ thể có quyền theo quy định của Luật Phá sản, bao gồm chủ nợ, người lao động, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã và các chủ thể khác theo luật định.
Tuy nhiên, trên thực tế không ít trường hợp cá nhân hoặc tổ chức đã sử dụng nhiều hình thức khác nhau để cản trở việc thực hiện quyền này, chẳng hạn như gây áp lực, đe dọa, ép buộc hoặc cố tình ngăn cản người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Những hành vi này làm trì hoãn quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp tục che giấu hoặc dịch chuyển tài sản, gây thiệt hại cho chủ nợ và ảnh hưởng đến tính minh bạch của thủ tục phá sản. Vì vậy, Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt nhằm bảo đảm mọi chủ thể có quyền đều được thực hiện đầy đủ quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán[2]
Khác với quyền nộp đơn của chủ nợ, người quản lý doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật trong nhiều trường hợp còn có nghĩa vụ phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp hoặc hợp tác xã đã mất khả năng thanh toán theo quy định của Luật Phá sản.
Việc không thực hiện nghĩa vụ này có thể dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực như kéo dài tình trạng hoạt động của doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán, làm gia tăng khoản nợ phải trả, giảm giá trị tài sản còn lại và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ.
Do đó, việc xử phạt hành vi không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không chỉ nhằm bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật mà còn góp phần bảo vệ lợi ích của các bên liên quan và hạn chế tình trạng kéo dài hoạt động của doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán trên thị trường.
Thứ ba, che giấu hoặc tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã[3]
Đây là một trong những hành vi vi phạm nghiêm trọng nhất trong quá trình phục hồi hoặc phá sản doanh nghiệp.
Theo đó, doanh nghiệp hoặc cá nhân có liên quan thực hiện các giao dịch nhằm che giấu, chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc chuyển dịch tài sản không đúng quy định trước hoặc trong quá trình giải quyết phá sản nhằm làm giảm giá trị khối tài sản được sử dụng để thanh toán các khoản nợ.
Những hành vi này làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ nợ, phá vỡ nguyên tắc phân chia tài sản công bằng trong thủ tục phá sản và có thể tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ nợ.
Chính vì vậy, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, người vi phạm còn có thể bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả tài sản đã che giấu hoặc tẩu tán để bảo đảm việc xử lý tài sản được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo Luật Phá sản.
Thứ tư, lợi dụng thủ tục phục hồi hoặc phá sản để trục lợi[4]
Pháp luật về phá sản được xây dựng nhằm tạo cơ hội cho doanh nghiệp phục hồi hoạt động hoặc chấm dứt hoạt động một cách có trật tự khi không còn khả năng thanh toán. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng lợi dụng các thủ tục này để thực hiện các hành vi gian lận.
Các hành vi phổ biến có thể bao gồm việc cố tình kéo dài thủ tục nhằm trì hoãn nghĩa vụ thanh toán, tạo lập giao dịch giả tạo, chuyển dịch tài sản cho người có liên quan hoặc lợi dụng quá trình phục hồi doanh nghiệp để né tránh nghĩa vụ tài chính đối với chủ nợ và người lao động.
Những hành vi này không chỉ làm sai lệch mục đích của pháp luật về phá sản mà còn ảnh hưởng đến tính công bằng, minh bạch của môi trường kinh doanh. Do đó, Nghị định 109/2026/NĐ-CP đã quy định chế tài xử phạt nhằm ngăn chặn việc lợi dụng thủ tục phục hồi hoặc phá sản để xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.
Mức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả
Để bảo đảm tính răn đe và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, Nghị định 109/2026/NĐ-CP áp dụng đồng thời hình thức xử phạt chính và biện pháp khắc phục hậu quả.

Kết luận
Việc ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP cho thấy xu hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Những quy định mới không chỉ góp phần nâng cao tính minh bạch của thị trường mà còn bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ tín dụng, thương mại.
Doanh nghiệp và hợp tác xã cần chủ động cập nhật quy định mới, rà soát hoạt động quản trị và tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý để hạn chế rủi ro trong quá trình phục hồi hoặc phá sản.
CNC có thể hỗ trợ gì?

- Đầu tư nước ngoài FDI: Thành lập công ty, Đăng ký đầu tư và Tuân thủ sau đăng ký chẳng hạn như thuế, kế toán, lao động, bảo hiểm, tiền lương và Phòng pháp chế thuê ngoài;
- Giấy phép hoạt động: Chúng tôi hỗ trợ xin giấy phép hoạt động cho các hoạt động kinh doanh cụ thể như sản xuất, thương mại, dịch vụ, thương mại điện tử, y tế, giáo dục hoặc thực phẩm & đồ uống (nhà hàng) v.v.;
- Dịch vụ M&A: Thực hiện Báo Cáo Thẩm Định Pháp Lý; Xây dựng cấu trúc giao dịch; Soạn thảo và Đàm phán tài liệu giao dịch; Tư vấn tuân thủ luật cạnh tranh, bao gồm hồ sơ kiểm soát tập trung kinh tế và phê duyệt liên quan; Xin các phê duyệt và giấy phép cần thiết; và hỗ trợ Hậu giao dịch:
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân: hỗ trợ tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu, bao gồm soạn thảo và rà soát Đánh giá Tác động Bảo vệ Dữ liệu (DPIAs), Thỏa thuận Xử lý/Chuyển giao Dữ liệu, Chính sách Quyền Riêng tư và các tài liệu cần thiết theo Luật Bảo vệ Dữ liệu Cá nhân (PDPL).
- Giải quyết tranh chấp: Tố tụng Tòa án và Trọng tài thương mại (VIAC SIAC ICC); và
- Dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên theo yêu cầu của khách hàng.
Xin vui lòng liên hệ Ông Chris Luong – Luật sư Thành viên qua email chris.luong@cnccounsel.com hoặc Bà Ngân Nguyễn – Luật sư Thành viên qua email ngan.nguyen@cnccousel.com để được hỗ trợ nhanh nhất.
Phụ trách
![]() |
Nguyễn Thị Kim Ngân I Luật sư thành viên
Điện thoại: (84) 919 639 093 Email: ngan.nguyen@cnccounsel.com |
![]() |
Lương Văn Chương I Luật sư thành viên
Điện thoại: (84) 938 04 7969 Email: chris.luong@cnccounsel.com |
![]() |
Lam Ngoc Thao Ngan | Legal Intern
Phone: (84) 28 6276-9900 |
Liên hệ
Mọi thông tin vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Địa chỉ: 2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 028 6276 9900
Hotline: 0916 545 618
Email: contact@cnccounsel.com
Website: cnccounsel
——————————–
Bản quyền © CNC Counsel. Bảo lưu mọi quyền. Quyền sở hữu: Tài liệu này và nội dung thể hiện trong đó (Tài Liệu) là tài nguyên độc quyền thuộc sở hữu độc quyền của CNC Counsel. Việc sử dụng Tài Liệu này tự nó không tạo ra bất kỳ mối quan hệ hợp đồng hoặc bất kỳ mối quan hệ luật sư/khách hàng nào giữa CNC Counsel và bất kỳ bên nào. Miễn trừ trách nhiệm: Tất cả Tài Liệu chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và có thể không phản ánh những quy định pháp lý mới nhất. Tất cả các tóm tắt về luật, quy định và thông lệ đều có thể thay đổi. Tài Liệu này không được cung cấp dưới dạng tư vấn pháp lý hoặc chuyên môn cho bất kỳ vấn đề cụ thể nào. Tài Liệu không nhằm mục đích thay thế cho việc tham khảo (và tuân thủ) các điều khoản chi tiết của luật, quy tắc, quy định hoặc biểu mẫu hiện hành nào. Khách hàng được khuyến cáo phải tư vấn pháp lý trước khi quyết định thực hiện hoặc không thực hiện bất kỳ hành động nào dựa theo thông tin nêu trong Tài Liệu. CNC Counsel và các biên tập viên cùng các tác giả không đảm bảo tính chính xác của Tài Liệu và từ chối chịu bất kỳ trách nhiệm đối với bất kỳ bên nào liên quan đến hành động của họ dựa trên toàn bộ hoặc bất kỳ phần nào của Tài Liệu. Tài Liệu có thể chứa các liên kết đến các trang website bên ngoài và các trang website bên ngoài có thể dẫn liên kết đến Tài Liệu. CNC Counsel không chịu trách nhiệm về nội dung hoặc hoạt động của bất kỳ trang website bên ngoài nào như vậy và từ chối mọi trách nhiệm liên quan đến nội dung hoặc hoạt động của bất kỳ trang website bên ngoài nào. Lưu ý: kết quả đã đạt được trong quá khứ không đảm bảo cho một kết quả tương tự trong tương lai, mỗi vụ việc đều có tính chất khác nhau.
[1] Điều 70 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định số 109/2026/NĐ-CP).
[2] Điều 71 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP.
[3] Điểm a Khoản 3 Điều 74 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP.
[4] Khoản 4 Điều 72 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP.








