Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp là sản phẩm tiếp theo trong chuỗi bài viết sau sáp nhập của CNC.
Từ ngày 01/7/2025, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức, sắp xếp theo mô hình mới với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân khu vực. Việc xác định đúng thẩm quyền của từng cấp Viện kiểm sát có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, đặc xá cũng như giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự.
Bài viết dưới đây của CNC hệ thống hóa thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp mới nhất, giúp cá nhân, tổ chức, người học tập và người hành nghề pháp lý thuận tiện trong việc tra cứu, áp dụng trên thực tiễn.
Cơ sở xác định thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp
Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp được xác định trên cơ sở Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố dụng dân sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Nghị quyết về tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
Theo đó, việc phân định thẩm quyền phải bảo đảm ba nguyên tắc cơ bản:

Thứ nhất, bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Mọi hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, kiểm sát thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và đặc xá phải được thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định.
Thứ hai, bảo đảm yêu cầu phân cấp, phân quyền trong tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát. Việc phân cấp thẩm quyền giúp từng cấp Viện kiểm sát chủ động hơn trong việc xử lý công việc, đồng thời phù hợp với yêu cầu thực tiễn của mô hình tổ chức mới.
Thứ ba, bảo đảm phân định rõ ràng thẩm quyền giữa các cấp Viện kiểm sát, tránh bỏ sót, chồng chéo hoặc trùng lặp trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp
Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan cao nhất trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền đối với những vụ việc, vụ án thuộc tính chất đặc biệt hoặc do các cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ở cấp trung ương thụ lý, giải quyết.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan cao nhất trong hệ thống Kiểm sát, có thẩm quyền trọng yếu sau:

Có thể thấy, thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tập trung vào các vụ việc, vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng, thuộc thẩm quyền của cơ quan trung ương hoặc cần sự chỉ đạo, kiểm sát ở cấp cao nhất.
Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh giữ vai trò trung gian, cũng như là “cầu nối” trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, vừa thực hiện thẩm quyền đối với những vụ án thuộc cấp tỉnh, vừa hướng dẫn, phối hợp và kiểm tra hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân khu vực trong phạm vi địa phương.
Về thẩm quyền, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đảm nhiệm:
Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp khu vực
Viện kiểm sát nhân dân cấp khu vực là cấp trực tiếp, gần dân nhất trong mô hình tổ chức mới. Đây là cấp có vai trò quan trọng trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với phần lớn các vụ việc, vụ án hình sự phát sinh tại địa phương.
Theo đó, thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp khu vực đảm nhiệm:

Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong một số trường hợp đặc biệt
Bên cạnh thẩm quyền thông thường, pháp luật còn quy định một số trường hợp đặc biệt để Viện kiểm sát nhân dân các cấp kịp thời xử lý vi phạm hoặc bảo đảm tính hợp pháp trong quá trình tố tụng, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của thời cuộc.
Đối với thẩm quyền trực tiếp giải quyết các nguồn tin về tội phạm,[10] Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm sẽ có quyền trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm trong các trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với (i) hoạt động điều tra; (ii) xác minh tố giác; (iii) tin báo về tội phạm; (iv) kiến nghị khởi tố; và/hoặc (v) có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.[11]
Đối với thẩm quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra,[12] Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án sẽ có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong một số trường hợp quy định cụ thể.[13]
Đối với thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự,[14] Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Viện trưởng Viện phúc thẩm có thẩm quyền đối với khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động điều tra.[15] Bên cạnh đó, Viện kiểm sát nhân dân nào đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố điều tra vụ án hình sự thì Viện kiểm sát nhân dân đó có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Đối với kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự,[16] Viện kiểm sát nhân dân nào đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra đối với vụ việc, vụ án thì Viện kiểm sát nhân dân đó có thẩm quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra đang thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án. Cùng với đó, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát đối với giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới.
Đối với thẩm quyền giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, tức là, trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân khu vực thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết đối với tố cáo đó.[17]
Ý nghĩa của việc xác định đúng thẩm quyền Viện kiểm sát nhân dân các cấp
Việc xác định đúng thẩm quyền Viện kiểm sát nhân dân các cấp có ý nghĩa quan trọng trong cả lĩnh vực hình sự và dân sự. Đây là cơ sở bảo đảm vụ việc, vụ án được giải quyết đúng cơ quan, đúng trình tự và đúng quy định pháp luật.
Trong lĩnh vực hình sự, xác định đúng thẩm quyền giúp Viện kiểm sát thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Qua đó, góp phần hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm và bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong lĩnh vực dân sự, Viện kiểm sát có vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Việc xác định đúng thẩm quyền giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời kịp thời phát hiện, kiến nghị hoặc kháng nghị khi có vi phạm pháp luật.
Nhìn chung, xác định đúng thẩm quyền Viện kiểm sát nhân dân giúp cá nhân, tổ chức, luật sư và người tham gia tố tụng biết đúng cơ quan cần liên hệ, gửi đơn, khiếu nại, tố cáo hoặc cung cấp tài liệu. Đây cũng là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp và bảo đảm công lý trong thực tiễn.
Kết luận
Việc xác định đúng thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp không chỉ là yếu tố cốt lõi bảo đảm tính hợp pháp, hiệu quả của hoạt động tư pháp mà còn thể hiện sự phân công, phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan trong hệ thống tố tụng hình sự. Việc nắm vững thẩm quyền của từng cấp Viện kiểm sát không chỉ giúp người làm công tác pháp lý áp dụng đúng quy định, mà còn góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng.
Xin vui lòng liên hệ Ông Nguyễn Văn Thịnh qua email thinh.nguyen@cnccounsel.com hoặc Bà Đoàn Thị Hồng Linh qua email linh.doan@cnccounsel.com để được hỗ trợ nhanh nhất.
Phụ trách
![]() |
Luật sư Nguyễn Văn Thịnh | Luật sư thành viên
Điện thoại: (84) 28 6276-9900 Email: thinh.nguyen@cnccounsel.com |
![]() |
Luật sư Đoàn Thị Hồng Linh | Luật sư thành viên
Điện thoại: (84) 938 533 393 Email: linh.doan@cnccounsel.com |
![]() |
Trịnh Minh An |Thực tập sinh pháp lý
Điện thoại: (84) 28 6276-9900 Email: an.trinh@cnccounsel.com |
Liên hệ
Mọi thông tin vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Địa chỉ: 2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 028 6276 9900
Hotline: 0916 545 618
Email: contact@cnccounsel.com
Website: cnccounsel
Sẽ rất vui khi bạn ghé thăm văn phòng của CNC bởi ở đó bạn sẽ được trao đổi với Luật sư phù hợp nhất với hoàn cảnh của bạn. Tất nhiên, nếu bạn không thể thu xếp để gặp trực tiếp, chỉ cần gửi email cho chúng tôi tại địa chỉ contact@cnccounsel.com hoặc gọi số máy (+84-28) 6276 9900.
————————————
Bản quyền © CNC Counsel. Bảo lưu mọi quyền.
Quyền sở hữu: Tài liệu này và nội dung thể hiện trong đó (Tài Liệu) là tài nguyên độc quyền thuộc sở hữu độc quyền của CNC Counsel. Việc sử dụng Tài Liệu này tự nó không tạo ra bất kỳ mối quan hệ hợp đồng hoặc bất kỳ mối quan hệ luật sư/khách hàng nào giữa CNC Counsel và bất kỳ bên nào.
Miễn trừ trách nhiệm: Tất cả Tài Liệu chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và có thể không phản ánh những quy định pháp lý mới nhất. Tất cả các tóm tắt về luật, quy định và thông lệ đều có thể thay đổi. Tài Liệu này không được cung cấp dưới dạng tư vấn pháp lý hoặc chuyên môn cho bất kỳ vấn đề cụ thể nào. Tài Liệu không nhằm mục đích thay thế cho việc tham khảo (và tuân thủ) các điều khoản chi tiết của luật, quy tắc, quy định hoặc biểu mẫu hiện hành nào. Khách hàng được khuyến cáo phải tư vấn pháp lý trước khi quyết định thực hiện hoặc không thực hiện bất kỳ hành động nào dựa theo thông tin nêu trong Tài Liệu. CNC Counsel và các biên tập viên cùng các tác giả không đảm bảo tính chính xác của Tài Liệu và từ chối chịu bất kỳ trách nhiệm đối với bất kỳ bên nào liên quan đến hành động của họ dựa trên toàn bộ hoặc bất kỳ phần nào của Tài Liệu. Tài Liệu có thể chứa các liên kết đến các trang website bên ngoài và các trang website bên ngoài có thể dẫn liên kết đến Tài Liệu. CNC Counsel không chịu trách nhiệm về nội dung hoặc hoạt động của bất kỳ trang website bên ngoài nào như vậy và từ chối mọi trách nhiệm liên quan đến nội dung hoặc hoạt động của bất kỳ trang website bên ngoài nào. Lưu ý: kết quả đã đạt được trong quá khứ không đảm bảo cho một kết quả tương tự trong tương lai, mỗi vụ việc đều có tính chất khác nhau.
—————————————–
[1] Điều 4 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC.
[2] Điều 5 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC.
[3] Điều 6 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC.
[4] Điều 7 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC.
[5] Điều 8 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC.
[6] Điều 9 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC.
[7] Điều 10 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC
[8] Điều 11 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC
[9] Điều 12 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC
[10] Điều 13 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC
[11] điểm c khoản 3 Điều 145 BLTTHS
[12] Điều 14 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC
[13] khoản 7 Điều 165 và khoản 3 Điều 236 BLTTHS
[14] Điều 15 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC
[15] Điều 475 và Điều 476 BLTTHS; khoản 44 và khoản 46 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025
[16] Điều 17 Thông tư 02/2025/TT-VKSTC
[17] Khoản 47 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự 2025








